Mekong News  
Ai nắm bắt được thông tin - người đó sẽ làm chủ thế giới!
 Kinh tế - Chính trị và Tin tức Cộng đồng VN tại LB Nga
Thời tiết
Tỷ giá hối đoái
Đóng
Tình trạng online
 Đang online: 001

  Hits: 025315299
 
Tin tức » Những kỷ niệm xử Việt 22.04.2024 00:25
Những kỷ niệm về thầy N.Nhikulin của tôi
14.01.2010 14:35

Châu Hồng Thuỷ

Đầu những năm 70 của thế kỷ trước,  học ở Khoa Văn Trường ĐHSP Hà Nội, tôi bắt đầu biết đến tên tuổi của N.Nhikulin, nhưng gần 20 năm sau, tại Matxcơva, tôi mới được gặp trực tiếp tác giả của những công trình nghiên cứu về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương..., mà trong các bài tập nghiên cứu, cánh sinh viên chúng tôi thường hay trích dẫn.

Tôi được gặp thầy Nhikolai Ivanovich Nhikulin  (tên đầy đủ của thầy) lần đầu tiên vào một buổi chiều cuối năm 1990  tại nhà số 52 Phố Povarnaia, Trụ sở Hội Nhà văn Liên Xô bấy giờ. Trong bài viết về nhà văn M.Tkachov, tôi đã kể kỹ về cuộc gặp gỡ  với cả hai người thầy, nên ở đây xin nhắc lại ngắn gọn.

GSTS N. Nhikulin

 Buổi gặp mặt do Hội Nhà văn Liên Xô tổ chức, theo sáng kiến của hai thầy M.Tkachov, N. Nhikulin và các bạn Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đình Chiến, Từ Thị Loan; những bạn ở khoá trước chúng tôi. Tham dự gặp gỡ gồm các nhà văn Liên Xô đã từng công tác,  gắn bó với Việt Nam thời chống Mỹ và các học viên của Trường Viết văn Gorki: Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đình Chiến, Khánh Chi, Từ Thị Loan, Châu Hồng Thuỷ, Vũ Xuân Hương, Thuỳ Linh, Phan Thanh Thuỷ, Nguyễn Chiến Thắng, Lại Thị Thanh Mai.

Cho đến hôm nay (2006), đã 16 năm rồi, tôi không còn nhớ được chính xác tên tuổi tất cả những nhà văn Liên Xô trong buổi gặp mặt hôm đó, nhưng hình ảnh hai thầy thì không thể nào quên được. Lúc khai mạc long trọng, hai ông phát biểu bằng tiếng Nga, lúc vào tiệc, uống rượu vui vẻ, bốc lên thì trò chuyện thoải mái bằng tiếng Việt. Chúng tôi gọi hai ông bằng "anh", hẹn "hai anh" sẽ nhiều lần gặp nữa. Lúc ấy "hai anh" mới xấp xỉ tuổi 60, trông còn nhanh nhẹn và rất "phong độ".

Tưởng hẹn vui thế thôi, không ngờ, năm sau,  chúng tôi lại thường xuyên gặp nhau trong các giờ lên lớp. Hai thầy không thuộc biên chế của Trường, nhưng được mời sang giảng dạy. Tên cơ quan của thầy N.Nhikulin gần giống tên Trường của chúng tôi nên nhiều người tưởng nhầm là một. Chúng tôi  ở "Viện văn học mang tên Gorki", nơi đào tạo các nhà thơ, nhà văn, các nhà phê bình, dịch thuật văn học (gọi là Trường Viết văn cho dễ phân biệt). Còn thầy công tác ở "Viện Văn học thế giới mang tên Gorki", trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, chuyên nghiên cứu các nền văn học trên thế giới, đào tạo ra các nhà nghiên cứu Văn học.

Trước đó vài năm, các nhà văn Việt Nam theo học chính quy ở Trường Gorki mỗi khoá chỉ có một người. Năm 1991, lần đầu tiên, có nhóm Việt Nam đông tới 6 người một lớp, nên nhà trường ngẫu hứng đặt ra "chương trình phụ" riêng cho chúng tôi: Ngoài những giờ lên lớp chung với các bạn Liên Xô và các nước khác, chúng tôi còn nghe giảng một số tiết về Văn học Việt Nam do thầy N.Nhikulin phụ trách. Còn thầy M. Tkachov giúp nhóm chúng tôi các giờ Xemina Dịch thuật văn học suốt cả khoá. Nguyễn Chiến Thắng, người trẻ tuổi nhất trong nhóm là chúa hay ngủ gật trong lớp. Trong lớp đông mấy chục người, cậu thường ngồi lủi xuống cuối dãy, các thầy không biết. Giờ của thầy N.Nhikulin chỉ có 6 người, giấu làm sao được. Thỉnh thoảng chúng tôi lại bấm hắn một cái, nhưng hắn vẫn không cưỡng lại được tật ngủ gật. Thầy biết nhưng cũng chẳng nói gì.

TSKH Bùi Mạnh Nhị tặng hoa GSTS N. Nhikulin, người thầy của mình

Một lần, thầy đọc cho chúng tôi nghe "Bài ca chúc Tết thanh niên" của Phan Bội Châu:

Dậy! Dậy! Dậy!

Bên án một tiếng gà vừa gáy

Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng...

Mọi ngày, giọng thầy lúc nào cũng đều đều, nhỏ nhẹ. Khi đọc câu thơ bằng tiếng Nga "Vstavai! Vstavai! Vstavai!" (Dậy! Dậy! Dậy!) thầy nhấn mạnh ngữ điệu, giật lên rất to (chắc là có chủ ý), làm Thắng giật bắn mình tỉnh dậy, ngơ ngác. Cả lớp cười ồ. Thầy cũng cười thoải mái.

Khoá học của chúng tôi, ngoài việc lên lớp, thầy còn hướng dẫn một số người viết luận văn tốt nghiệp và  tham gia phản biện. Liên Xô tan vỡ, Hội nhà văn Liên Xô cũng giải thể, lớp chúng tôi là khoá cuối cùng có các nhà văn Việt Nam theo học, thầy cũng  thôi sang giảng ở Trường. Nhưng từ đó đến nay, quan hệ giữa chúng tôi và thầy vẫn  gắn bó. Mỗi khi tổ chức  những Đêm Thơ, Hội thảo...  Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại LB Nga bao giờ cũng mời thầy tham dự, hoặc nhờ thầy cố vấn. Được gặp gỡ các bạn Việt Nam, được sống trong không khí nói tiếng Việt, là niềm vui của thầy.

Cuối tháng 9, đầu tháng 10 năm 2000, tôi và thầy cùng về dự Hội nghị "Việt Nam trong thế kỷ 20". Các nhà Việt Nam học của 39 nước trên thế giới có mặt trong Hội nghị này để đánh giá tiến trình của Việt Nam trong 100 năm. Đoàn các nhà Việt Nam học của Nga  gồm có: thầy N.Nhikulin, anh A.Xokolov (Viện Đông phương học), anh V.Antonshenko (Trung tâm Việt Nam học thuộc Viện Các nước Á-Phi của MGU), các   giáo sư: Zuravlev (Phó Viện trưởng Viện Tâm lý hoc), Aslanov, (Phó Viện trưởng Viện  Viễn Đông). Hội nghị được tổ chức ở Hội trường Ba Đình. Thầy N.Nhikulin ngồi trên ghế chủ tịch Đoàn, đồng thời phụ trách một tổ thảo luận. Ngôn ngữ chính của Hội nghị là các thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga và Việt. Khi đọc bản Tham luận cá nhân và Tổng kết thảo luận của nhóm mình phụ trách, thầy đọc bằng tiếng Việt. Mặc dù giỏi tiếng Việt, đã dịch bao nhiêu tác phẩm văn học Việt Nam ra tiếng Nga, nhưng thầy đọc tiếng Việt chậm và khó nghe. Cô Đặng Thanh Lê,  cười và bảo tôi: "Ông ấy cứ đọc bằng tiếng Nga, mình đỡ sốt ruột".

Tại hội trường Ba Đình-GSTS N. Nhukulin (thứ 2 trái sang) và tác giả (thứ 3 trái sang)

Cô Đặng Thanh Lê là cô giáo của tôi hồi Đại học. Cô và thầy Nguyễn Văn Hoàn, nguyên Viện phó Viện Văn học, chồng cô, đều là những chuyên gia lớn về Truyện Kiều. Thầy N.Nhikulin khởi đầu sự nghiệp Văn chương của mình cũng bằng Truyện Kiều, lại gắn bó suốt đời với Văn học Việt Nam, vì thế họ là  những người  bạn thân thiết của nhau mấy chục năm rồi. Tranh thủ những giờ giải lao, giờ  chờ tiệc chiêu đãi, họ trò chuyện thăm hỏi nhau thân mật. Tôi mang theo máy ảnh, ghi lại được nhiều hình ảnh đẹp, tặng gia đình cô Đặng Thanh Lê và thầy N.Nhikulin. Đó là hình ảnh của thầy lần cuối cùng  đến Việt Nam mà tôi ghi được.

Tháng 10 năm 2005, Phó Giáo sư Tiến sĩ Phạm Vĩnh Cư, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Viết văn Nguyễn Du, cùng Tiến sĩ Ngữ văn Trịnh Bá Đĩnh, ở Viện Văn học Việt Nam sang công tác theo lời mời của Viện Văn học thế giới mang tên Gorki. Ngày 26 tháng10, thầy N. Nhikulin cùng ông A.Kudelin, Viện trưởng và các giáo sư trong Viện tổ chức gặp mặt Đoàn. Tôi là "thổ công", đồng thời là học trò của cả hai thầy: Phạm Vĩnh Cư và N.Nhikulin, nên được đi theo tham dự. Thầy Phạm Vĩnh Cư chuyển lời của Viện trưởng Viện văn học Việt Nam mời thầy N.Nhikulin sang Hà Nội công tác. Ông cám ơn, nhưng rất lấy làm tiếc vì cô Iveta đã loà, không thể để cô ở nhà mà đi đâu xa được. Khi Trịnh Bá Đĩnh đề nghị thầy hướng dẫn cho một cán bộ của Viện văn học Việt Nam làm luận án Tiến sĩ, thầy vui vẻ nhận lời.

Hôm ấy, không thấy thầy có biểu hiện gì của tuổi già ốm đau bệnh tật, thế mà lại là buổi gặp gỡ cuối cùng của thầy với chúng tôi. Hai tháng sau, trước Tết Dương lịch mấy hôm, tôi gọi điện chúc Tết thầy sớm hơn mọi năm để đi thành phố xa. Nhiều lần chuông reo mà không thấy ai nhấc máy. Hai ông bà ở riêng, không ở cùng con cái. Tôi nghĩ  chắc ông bà đi nghỉ ở đâu đó. Ngày 27/12, trước giờ ra tàu, tôi gọi thêm lần nữa, nghe thấy giọng thầy yếu ớt, thốt lên được hai tiếng: "Tôi ốm" rồi tắt máy, không có cách nào liên hệ lại được nữa. Tôi linh cảm có điều gì không ổn với thầy. Quả vậy, sáng ngày 31 tháng 12 năm 2005,  thầy lặng lẽ ra đi ở tuổi 75, không kịp đón  giao thừa. Và, hồi ký "Chiếc Va li" của ông chúng tôi đăng trên Tạp chí Đoàn Kết số Tết Dương lịch năm 2006, kèm theo chân dung của ông với nụ cười rất tươi, ông không kịp nhìn thấy.

Lại nhớ, năm 2001, thầy tròn tuổi 70. Trước đó hai ba tuần, tôi đinh ninh sẽ chào mừng sự kiện đặc biệt này một cách chu đáo. Nào là thay mặt Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tại LB Nga sẽ gửi bưu thiếp chúc mừng qua bưu điện, rồi với tư cách học trò cũ sẽ đến tận nhà gửi một món quà gì đó làm lưu niệm. Thế nhưng, tính tôi  rất đoảng. Chẳng bận rộn việc gì cũng quên khuấy đi mất. Một buổi tối, đã  hơn 11 giờ, bỗng chợt nhớ tới thầy. Cũng may, hôm đó lại đúng ngày sinh của ông (03/10/1931). Muộn còn hơn không. Tôi gọi điện xin lỗi vì quấy rầy thầy vào giờ này, và chúc mừng ông. Thầy cười, bảo: "Không sao! Tôi rất mừng là anh đã gọi điện. Hôm nào rỗi đến chơi cũng được".

Từ phải sang: GSTS N. Nhikulin, PGS TS Phạm Vĩnh Cư, GSTS A. Kudelin - Viện trưởng Viện VHTG mang tên Gorki, Châu Hồng Thuỷ. Ảnh: Trịnh Bá Đĩnh

Người Nga thường ít khi mời khách đến nhà. Nhưng tôi có mặt ở nhà thầy nhiều lần, thường là vì công việc. Căn hộ cũ số 505 của thầy ở  Phố Phestivalnaia, thuộc khu nhà xây từ thời Xô Viết, 5 tầng,  không có thang máy, mà thầy lại ở tận tầng trên cùng. Thấy ái ngại cho hai ông bà. Mấy năm gần đây, khu nhà cũ  họ phá đi để xây dựng lại, thầy được phân đến nhà số 6, mới xây dựng trên Phố Liapidevxkaia.  Tiêu chuẩn nhà rộng hơn, có thang máy đỡ phải đi bộ, nhưng cô Iveta vợ thầy lại cằn nhằn: "Tôi thích căn hộ cũ hơn. Căn hộ mới này họ xây dựng dở quá. Hành lang thì rộng đá bóng được, còn các phòng ở và làm việc thì lại quá bé". Tôi đồng tình với cô. Quả thực, kiến trúc nội thất của ngôi nhà cũ đẹp và hợp lý hơn.

Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Nga của chúng tôi có Tạp chí "Người bạn đường", nhờ thầy đóng góp bài. Mặc dù thầy giỏi tiếng Việt, nhưng bao giờ thầy cũng gửi bài viết của mình bằng tiếng Nga để chúng tôi dịch. Dù có giỏi ngoại ngữ đến đâu, các tác giả viết bài bao giờ cũng bằng ngôn ngữ mẹ đẻ mới diễn đạt hết được ý tưởng của mình. Chỉ  đôi lúc có cảm hứng nào đó, mới viết trực tiếp bằng ngoại ngữ mà mình thông thạo. Lúc  chưa có máy vi tính,  thầy thường giao cho tôi bản thảo viết tay, khó đọc hơn bản đánh máy, nên nhiều chữ không rõ, phải luận mãi mới ra. Trong lúc dịch, có từ nào bí, tôi lại gọi điện hỏi thầy nên dịch ra tiếng Việt thế nào cho đúng. Dịch xong, tôi mang bản tiếng Việt đến cho thầy duyệt. Tạp chí của chúng tôi xuất bản được là nhờ tài trợ của một vài nhà doanh nghiệp hảo tâm ở các TTTM. Lúc tạp chí in ra, đem đến cho họ biếu bà con đang kinh doanh trên địa bàn Trung tâm, chứ không bán. Vì vậy Toà soạn chưa bao giờ có tiền trả nhuận bút cho tác giả. Riêng trường hợp thầy, chúng tôi biết tiền lương hưu so với giá cả đắt đỏ, có nhiều khó khăn, khi mang tạp chí đến biếu thầy, có kèm "nhuận bút"  bằng một khoản tiền rất khiêm tốn, khoảng 50 đô. Thầy bảo: "Với các bạn, chúng tôi gửi bài không nhuận bút vẫn vui". 

Nhờ đọc và trực tiếp dịch những tư liệu của thầy nghiên cứu về Việt Nam, tôi  được biết  nhiều kiến thức mới rất bổ ích mà hồi trong nước mình chưa được biết. Xin ví dụ một trường hợp: Người Việt Nam  đầu tiên đặt chân lên Châu Âu (Bồ Đào Nha) là Linh mục Philip Bỉnh (1759 -1832), vì lý do khúc mắc với một số giám mục bề trên người Phương Tây,  chạy trốn từ Việt Nam qua Ma Cao, rồi từ Ma Cao chạy trốn sang Bồ Đào Nha vào năm 1796 để nhờ sự che chở của nhà vua Bồ Đào Nha, người đỡ đầu cho Thiên Chúa giáo Phương Đông. Điều lý thú khi chúng tôi đọc các công trình của ông nghiên cứu về Việt Nam, thường có những phát hiện, cách nhìn độc đáo mà người trong nước không có được. N. Nhikulin nhận xét: Xưa nay ý kiến phổ biến cho rằng "Alekxandr de Rode, người  Pháp, là cha đỡ đầu của Thiên chúa giáo Việt Nam ". Nhưng thực tế, ông là người của Giáo hoàng La Mã cử đến Việt Nam từ Lixbon-Bồ Đào Nha chứ không phải đến từ Pháp. Vào năm1493, Giáo hoàng La Mã phân chia ranh giới  trả Phương Tây cho Tây Ban Nha và Phương Đông về Bồ Đào Nha. Từ năm 1508, theo quy định của Giáo hoàng, nhà vua Bồ Đào Nha là người bảo trợ chính thức cho Thiên chúa giáo các nước Phương Đông. Kết quả thực tế là Bồ Đào Nha kéo dài đến cả Braxin. Và ông, (Alekxandr de Rode ) cho xuất bản cuốn Từ điển Việt-Bồ chứ không phải Từ điển Việt - Pháp, trong Từ điển này có bản cảo của Philip Bỉnh. Theo N.Nhikulin, Philip Bỉnh là người Việt Nam đầu tiên dịch sách Phương Tây ra tiếng Việt từ thế kỷ 18. Đó là cuốn "Viễn du" của nhà văn  Pherman Mendesa Phity. Lâu nay người ta vẫn cho rằng Văn học Phương Tây được dịch ra tiếng Việt khoảng đầu thế kỷ 20, đặc biệt lấy những bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh  dịch tác phẩm của La Phongten (Pháp) làm mốc.

 Philip Bỉnh cũng có thể được coi là nhà văn Việt Nam đầu tiên viết bằng quốc ngữ  với cuốn sách có tên gọi rất nôm na "Sổ sách sang chép các việc", viết năm 1822. N.Nhikulin nhận xét: "Tác phẩm của ông nặng về những thông tin thường nhật. Nhưng cũng không vì thế mà mất đi ý nghĩa văn chương, những nét lãng mạn trữ tình trong nội dung của nó". Xưa nay, ta thường thấy các cuốn sách Du ký của các nhà thám hiểm Phương Tây viết về Phương Đông. Có lẽ Philip Bỉnh là người đầu tiên của Phương Đông viết Du ký Phương Tây. Những tư liệu mới về cuộc đời và sáng tác của Philip Bỉnh, được N.Nhikulin phát hiện trong dịp sang Lixbon (Bồ Đào Nha)  năm 1998 theo lời mời của tổ chức quốc tế Fundaçao Oriente (Quỹ Phương Đông). Ông lục tìm trong thư viện và may mắn tìm ra những tư liệu về Philip Bỉnh và cuốn "Sổ sách sang chép các việc", một viên ngọc quý mà các nhà nghiên cứu Việt Nam chưa biết đến. Ngay các học giả Pháp đến tận nửa đầu thế kỷ XX cũng không biết gì Philip Bỉnh và di cảo viết tay của ông.  Vì thế, căn cứ vào tư liệu của Nhikulin, tôi nghĩ những nhận định xưa nay cho rằng Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của... mở đầu cho văn xuôi quốc ngữ Việt Nam cần phải xem xét lại. Với những tư liệu về Philip Bỉnh, bằng nhãn quan một nhà khoa học, ông phát hiện và triển khai thành nhiều bình diện nghiên cứu sâu sắc, khiến chúng ta phải khâm phục. Chỉ riêng việc Philip Bỉnh ghi chép  chuyện uống trà của người Bồ Đào Nha, N.Nhikulin đã phát triển thành vấn đề lý thú: "Trà, đối thoại của Văn hoá". Loạt bài của ông về Philip Bỉnh, chúng tôi đã cho dịch và  in trên Tạp chí Người Bạn Đường  mấy số liền.

Ngay sau khi tốt nghiệp Đại học Phương Đông năm 1954, N. Nhikulin sang Việt Nam thực tập (1954-1956), được gặp Bác Hồ và phiên dịch cho các cuộc tiếp xúc của Người với Đại sứ Liên Xô, cũng như các Đoàn chuyên gia kinh tế sang giúp Việt Nam. Ông cũng được Thủ tướng Phạm Văn Đồng quý mến và có quan hệ mật thiết. Những nhà nghiên cứu khoa học xã hội hàng đầu, những nhà văn Việt Nam như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Xuân Diệu, Nguyễn Văn Bổng...là những người thân thiết của ông, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ông trong quá trình dịch thuật và nghiên cứu. Năm 1961, N.Nhikulin bảo vệ luận án Phó tiến sĩ với đề tài: "Những sáng tác của Nguyễn Du giai đoạn 1765-1820". Cả đời ông gắn bó với việc dịch và nghiên cứu Văn học Việt Nam. Nhờ những công trình ấy, ông được công nhận là Giáo sư Tiến sĩ, Hội viên Hội Nhà văn Liên Xô, nhà Việt Nam học tầm cỡ thế giới, giảng dạy tại các Trường MGU, Viện Đông Phương học, làm Trưởng Ban Văn học Á Phi của Viện văn học thế giới mang tên Gorki, nhiều lần tham dự các Hội nghị khoa học tại Vayma, Budapest, Insbrus, Berlin, Braiton, Lisbon... Mấy chục đầu sách dịch văn học và  hơn 300 công trình nghiên cứu  về Văn hoá, văn học, ngôn ngữ Việt Nam của ông đã được công bố khiến ta phải ngạc nhiên về lòng say mê và sức làm việc kinh khủng của ông.Đã có lần tôi đề nghị ngồi cùng ông thống kê đầy đủ tên những công trình đã xuất bản, nhưng chưa kịp làm thì ông đã mất. Chỉ xin điểm vài cuốn lướt qua trong những lần đến nhà ông: Truyện cổ tích Việt Nam, Truyện Trạng Quỳnh, Truyện miền núi Việt Nam (Trường ca Đam San và Trường ca Đam Di), Đồng tiền ma ám (Nguyễn Công Hoan); Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Văn học Việt Nam sơ thảo, Văn học Việt Nam từ trung đại đến thời mới, thế kỷ X-XIX, rồi những công trình nghiên cứu về Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Hồ Chí Minh, Ngô Tất Tố...  Ông là một trong những người có công lớn trong quá trình xây dựng bộ tuyển Văn học đương đại Việt Nam 15 tập bằng tiếng Nga... Đồng thời đào tạo nhiều Phó Tiến sĩ, Tiến sĩ cho ngành nghiên cứu Văn học Việt Nam. Hôm vừa rồi, Masa (cô con con gái duy nhất của thầy và bà I.Glebova) đem đến tặng tôi cuốn "Truyện cổ Miền núi Việt Nam" (in năm 1970), kỷ vật của người cha, khiến tôi lại cảm thấy như thầy lại đang hiện hữu bên mình.

Viết về N. Nhikulin, không thể không nói về bà Iveta Ivanovna Gơlebova, vợ thầy. Người Việt Nam, hễ ai đã học tiếng Nga chắc sẽ biết tên bà. Bà là một trong những sinh viên Nga thuộc thế hệ đầu tiên nghiên cứu tiếng Việt, dịch văn học Việt Nam. Cùng với I. Ivanov và một số tác giả khác, bà tham gia biên soạn Từ điển Việt Nga khoảng 36 nghìn từ, xuất bản năm 1961. Đến năm 1992, bà lại cùng Anatoli Xokolov, cho ra mắt cuốn Từ điển Việt Nga mới, khoảng 60 nghìn từ, đầy đủ và phong phú hơn, cẩm nang cho những người học tiếng Nga.  I.Glebova sinh năm 1929 trong một gia đình viên chức nhà nước, hơn N.Nhikulin hai tuổi. Tốt nghiệp Đại học Phương Đông năm 1952, bà bảo vệ Luận án Phó tiến sĩ về "Phạm trù Tính từ trong  tiếng Việt hiện đại" năm 1970, được phong Phó Giáo sư năm 1972.  Nhiều năm liền, bà dạy ở Trường Đại học quan hệ Ngoại giao quốc tế (MGIMO). Hôm vừa rồi, ông Grigori Lokshin, Nguyên Thư ký Ủy ban Liên Xô ủng hộ Việt Nam thời chống Mỹ, Thư ký Quỹ hoà bình thế giới của Nga, ngồi trò chuyện với chúng tôi, đã kể lại, bà Iveta là cô giáo của ông. Những năm 1956-1963, 1974-1975 bà sang thực tập và giảng dạy ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cho đến nay bà đã có hơn 50 công trình nghiên cứu về Ngôn ngữ, văn hoá Việt Nam, đồng thời cùng ông tham gia dịch một số tác phẩm Văn học Việt Nam, góp phần xây dựng 15 tập Hợp tuyển Văn học Việt Nam bằng tiếng Nga. Bà dịch tập "Truyện cổ Việt Nam", rồi "Con trâu" của Nguyễn Văn Bổng (1956) , "Hương cỏ mật" của Đỗ Chu và những tác phẩm khác của Bùi Hiển, Vũ Thị Thường, Kim Lân, Hồ Phương, Đào Hồng Cẩm...

Lần nào đến thăm, tôi cũng được ông bà chiêu đãi nhẹ. Hai thầy trò, mỗi người làm một ly Konhac hoặc Vodka, sau đó là bánh mỳ với Kolbasa, kèm theo một món rất đặc biệt do bà Ivetta làm. Đó là món Xalat cá Mực trộn Maionhez. Lần đầu tiên được ăn Xalat Mực, tôi vô cùng ngạc nhiên vì ngon miệng, mà lại không hề có vị tanh của cá. Biết tôi thích món này, lần nào tôi đến là cô Iveta cũng chuẩn bị sẵn món Xalat Mực. Ở  Nga  16 năm rồi, đến nhà nhiều bạn Nga chơi, nhưng tôi chỉ được chiêu đãi món này ở nhà bà.

Hôm thầy N.Nhikulin mất, tôi ở xa Matxcơva, nên không được tiễn thầy về nơi an nghỉ cuối cùng. Lúc về Matxcơva, tôi gọi điện, muốn tới nhà chia buồn với bà. Đau buồn vì ông mới mất, lại đang bệnh mù loà, bà không muốn tiếp bất cứ ai. Lúc có tiền nhuận bút bài "Chiếc Va li" của ông đăng trên tạp chí Đoàn Kết, tôi gọi cho bà, nhưng bà cũng bảo không thể tiếp, cứ gửi qua Masa là được. Masa  là cầu nối giữa  bà với chúng tôi.

Gần đây bà không đi lại được. Nhà văn Hồ Sĩ Vịnh, bạn cũ của ông bà từ Hà Nội sang công tác, có mang quà đến tặng. Bà ở nhà một mình. Hồ Sĩ Vịnh đứng ở cửa bấm chuông rồi mà bà không mở cửa, chỉ nói vọng ra. Một là già quá rồi, bao nhiêu năm không gặp, không nhận ra giọng người quen cũ, kèm thêm bị loà không nhìn thấy gì, sợ bị lừa. Hai là bà cũng không dậy được ra mở cửa. Ông đành ngậm ngùi than thở, về nhờ tôi tìm cách gửi quà cho bà  vào lúc khác. Masa kể, mẹ bây giờ không những bị loà, mà còn bị đau đầu thường xuyên. Mỗi lần đau là bà la hét quậy phá. Cô bảo: "Như vậy là bố đỡ khổ hơn mẹ. Bố ốm có mấy hôm rồi mất, không phải chịu cảnh đau đớn, nằm liệt giường lâu ngày như mẹ bây giờ".

Masa  ở xa mẹ, mỗi tuần chạy đến thăm mẹ đôi lần. Kachia (con gái riêng của bà Iveta) ở gần, có điều kiện hơn. Cậu con trai của Kachia, sau khi ông mất, đến ở với bà ngoại. Ban ngày cậu cũng phải đi làm, tối mới về. Mà con trai làm sao chăm cho người ốm chu đáo bằng phụ nữ? Khi ông còn sống, mắt bà đã loà, thỉnh thoảng ông dắt bà xuống đường đi dạo cho thoáng. Câu tục ngữ: "Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông"  không chỉ đúng cho người Việt. Tội nghiệp, giờ không còn ông để chăm sóc bà hàng ngày.

Sắp đến Lễ kỷ niệm một năm ngày mất của N.Nhikulin, tôi ngồi viết những dòng này tưởng nhớ đến Thầy. Đây là lòng tri ân không phải của riêng tôi, mà  của bạn bè cùng khoá Trường Viết văn Gorki thủa ấy, của nhiều thế hệ học trò khác đã trưởng thành qua bàn tay dìu dắt của thầy... Người Việt Nam chúng tôi tri ân N.Nhikulin, bởi nhờ  những công trình dịch thuật và nghiên cứu của ông, mà độc giả Nga và Liên Xô biết đến tinh hoa Văn hoá của dân tộc chúng tôi. Vì những cống hiến khoa học và góp phần tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa hai dân tộc Việt Nga, N.Nhikulin đã được nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Hữu Nghị đợt đầu tiên. Nói cuộc đời N.Nhikulin song hành cùng Văn học Việt Nam là hoàn toàn chính xác về ông, người thầy kính mến của chúng tôi.

Matxcơva 02/12/2006

(Viết nhân dịp chuẩn bị giỗ đầu của thầy N. Nhikulin)

C.H.T

Bổ sung: Năm 2009, Đài Truyền hình Việt Nam dự định tổ chức chương trình Truyền hình thầy trò Xô Việt. Tháng 10/2009, chị Kim Ngân dẫn một đoàn quay phim sang Ucraina và qua Nga để thực hiện quay một số cảnh gặp gỡ giữa các học trò Việt với các thầy giáo Nga. Hai người thầy thân thiết nhất của tôi là Marian Tkachov và Nhikolai Nhikulin đều đã mất. Thầy M. Tkachov đã được đưa bình tro về quê vợ tận Astrakhan. Vì thế, chúng tôi chỉ được đến viếng mộ thầy Nhikulin tại Matxcơva. Masa lại dẫn tôi và Đoàn đến nghĩa trang tận ngoại ô. Đến nơi, những người bảo vệ không cho Đoàn mang máy quay vào, bởi có quy định cấm quay phim ở nghĩa trang. Kim Ngân phải giải thích mục đích của chương trình Thầy trò Xô Việt nhằm bày tỏ sự tri ân của nhân dân Việt Nam đối với dân tộc Nga và Liên bang Xô Viết. Thầy N. Nhikulin là người có công lớn đối với dân tộc chúng tôi. Những người bảo vệ đã vui lòng trước ý định tốt đẹp ấy, cho phép đoàn được quay cảnh viếng mộ thầy.

Masa cùng tôi dọn cỏ quanh mộ, thắp nến, rót một ly Vodka và đặt một lát bánh mỳ lên mộ thầy. Phần Vodka còn lại, tôi cầm chai rưới lên mộ, để nhớ lại những lần thầy trò ngồi uống rượu cùng nhau.

Giữa buổi chiều giá lạnh, chúng tôi đứng cúi đầu tưởng nhớ đến người thầy cả cuộc đời đã dành trọn tình yêu cho Văn học Việt Nam và dân tộc Việt Nam

Matxcơva 14/1/2009

CHT

0 0/0    Đánh giá của bạn:  GO
Bản để inLưuGửi tin qua email


  GO  
Chọn ngày

Tin mới
Trang chủ  ¤  Tin tức  ¤  Liên hệ  ¤  Liên kết  ¤  Sơ đồ site  ¤  Tiếng Nga Anti Spam
© Copyright 2009-2010 MEKONGNET.ru, All rights reserved.
® MEKONGNET.ru giữ bản quyền nội dung trên website này.
Cơ quan chủ quản: COMPANY ZOLOTOI DRAKON
Trụ sở: Office 17, Tekhnitreskaia str., 19, Ekaterinburg, Russia
Tel/Fax: 7 (343) 381-84-14 Email : info@mekongnet.ru